Phát huy giá trị các danh hiệu UNESCO: Điểm đến hấp dẫn, tạo dựng thương hiệu
VHO- Trong hai ngày 3 - 4.7 tại Ninh Bình, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và UBND tỉnh Ninh Bình phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế “Phát huy giá trị các danh hiệu UNESCO phục vụ phát triển bền vững tại Việt Nam”.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng phát biểu tại Hội nghị
Chia sẻ kinh nghiệm thành công, diễn đàn Hội nghị cũng nêu những thách thức hiện hữu trong bảo tồn và phát huy các danh hiệu UNESCO. Những bài học điển hình quý giá, các giải pháp sáng tạo và kể cả các bài học sai phạm, đôi khi rất đắt giá nhưng đều là kinh nghiệm quý báu.
Việt Nam là thành viên chủ động và có trách nhiệm của UNESCO
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng khẳng định, Việt Nam đã xác định phát triển bền vững trên cơ sở lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần của xãhội, vừa làmục tiêu, vừa làsức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước.
Trong suốt 47 năm kể từ khi chính thức là thành viên của UNESCO, người Việt Nam đã phát huy tâm thế và mang nhận thức đó vào trong tất cả các hoạt động, hợp tác với các đối tác, nhất là với UNESCO. Việt Nam đã phê chuẩn, tham gia 4 Công ước của UNESCO vềlĩnh vực di sản văn hóa; 5 lần đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Chấp hành UNESCO, thành viên Ủy ban Di sản thế giới (nhiệm kỳ 2013-2017), thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (nhiệm kỳ 2006-2010 và 2022-2026), thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (nhiệm kỳ 2021-2025); làmột trong các quốc gia đầu tiên tổ chức hoạt động kỷ niệm hướng tới lễ kỷ niệm toàn cầu 50 năm Công ước Di sản thế giới của UNESCO. “Điều đó khẳng định Việt Nam là thành viên chủ động và có trách nhiệm của UNESCO, đóng góp tích cực cho thành công của các khuôn khổ và hoạt động của UNESCO, đặc biệt là trong kiến tạo, đối thoại, hợp tác vì hòa bình và phát triển”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng khẳng định.
Với nguồn tài nguyên văn hóa và thiên nhiên đồ sộ, phong phú, đặc sắc, đến nay Việt Nam đã được UNESCO ghi danh 8 Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 15 Di sản văn hóa phi vật thể, 9 Di sản tư liệu, 3 Công viên địa chất toàn cầu và 11 Khu dựtrữ sinh quyển thế giới. Có thểnói, các di sản văn hóa và thiên nhiên của Việt Nam được UNESCO ghi danh đã giúp khơi dậy niềm tự hào và khuyến khích mạnh mẽ các cộng đồng có di sản, các cấp chính quyền địa phương, toàn xã hội quan tâm, tự nguyện và chủ động tham gia, đóng góp bảo vệ di sản, đẩy mạnh giới thiệu, quảng bádi sản văn hóa của địa phương, tạo thêm động lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. “Thực tế cho thấy, các di sản văn hóa sau khi được UNESCO ghi danh đã trở thành những điểm đến du lịch hấp dẫn, tạo nên thương hiệu cho các địa phương có di sản, góp phần không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê, trước thời điểm dịch Covid-19, năm 2019, các Di sản thế giới ở Việt Nam đã đón trên 18,2 triệu lượt khách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm, với tổng doanh thu từ vé tham quan, dịch vụđạt 1.800 tỉ đồng…”, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng khẳng định.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc phát biểu tại Hội nghị
Bộ trưởng dẫn chứng, tháng 4.2023, trong khuôn khổ Lễ hội Đền Hùng, Bộ VHTTDL đã chủ trì, phối hợp với tỉnh Phú Thọ và các địa phương tổ chức Liên hoan trình diễn các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh, Lễ kỷ niệm 20 năm thực hiện Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, phối hợp với Hội khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu tổ chức Hội thảo quốc tế về phát huy vai trò của di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, qua đó thu hút khoảng 8 triệu du khách đến với Phú Thọ. Đây là minh chứng sống động cho việc phát huy giá trị của di sản, khẳng định sự đóng góp tích cực, hiệu quả của các di sản thế giới tại Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tạo sinh kế cho cộng đồng nơi có di sản, góp phần cân bằng, bảo vệ môi trường, củng cố hòa bình và an ninh theo hướng phát triển bền vững cho Việt Nam và thế giới.
Giai đoạn 2021-2025, hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO tiếp tục được củng cốthông qua việc hai bên đã ký kết Bản ghi nhớ, tạo cơ sở vững chắc hơn nữa trong việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, qua đó tiếp tục đóng góp cho các chiến lược phát triển quốc gia, cũng như các chiến lược phát triển của địa phương.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứXIII của Đảng về nhiệm vụchấn hưng và phát triển văn hóa Việt Nam, Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021 và các chính sách về đối ngoại, các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Bộ VHTTDL, Bộ Ngoại giao cùng các địa phương đang tập trung thực hiện mục tiêu toàn cầu về tăng cường bảo vệ và bảo đảm an toàn cho các Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Di sản văn hóa phi vật thểđược UNESCO ghi danh. Bộ trưởng cũng khẳng định, hoạt động bảo vệ, phát huy giátrị các di sản văn hóa, trong đó có các di sản được UNESCO công nhận, gắn với phát triển du lịch bền vững là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng đểdu lịch thực sựtrở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số82/NQ-CP ngày 18.5.2023 của Chính phủ.
Địa chỉ hút khách, tạo dựng thương hiệu
Hội nghị tập trung thảo luận với 3 phiên chuyên đề: Thực tiễn về phát huy danh hiệu UNESCO phục vụphát triển bền vững tại Việt Nam; kinh nghiệm quốc tế về phát huy danh hiệu UNESCO phục vụ phát triển bền vững; giải pháp huy động nguồn lực trong bảo tồn và phát huy giátrị danh hiệu UNESCO phục vụphát triển bền vững.
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương một lần nữa khẳng định, các danh hiệu UNESCO đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đặc biệt trong việc xây dựng kinh tế du lịch và thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Điều này càng đặc biệt đúng với các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn và điểm xuất phát thấp, các Di sản thế giới ở Việt Nam đã và đang trở thành những địa chỉ nổi tiếng để tuyên truyền, quảng bá, thu hút du khách. Việc UNESCO ghi danh một khu vực vào Danh sách Di sản thế giới thường đi liền với tỉ lệ tăng nhanh về sốlượng khách du lịch. Như Quần thể di tích Cốđô Huế (năm 1993) và Vịnh Hạ Long (năm 1994) từ khi mới được ghi danh chỉ có vài chục nghìn khách, đến nay đã thu hút hàng triệu khách tới tham quan, nghiên cứu. Quần thểdanh thắng Tràng An khi bắt đầu xây dựng hồ sơ Di sản thế giới năm 2011 chỉ có trên 1 triệu khách du lịch và hầu như chưa thu vé tham quan, sau khi được UNESCO ghi danh, từ năm 2014 đến nay, lượng du khách tăng lên nhanh chóng, năm 2019 là 6.327.488 khách.

Một tiết mục biểu diễn nghệ thuật tại Hội nghị
Việc các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp đã khơi dậy niềm tự hào và khuyến khích mạnh mẽ các cộng đồng có di sản, các cấp chính quyền địa phương, toàn xã hội quan tâm, tự nguyện và chủ động tham gia bảo vệ di sản. Về di sản tư liệu, năm 2006, Việt Nam chính thức tham gia Chương trình Kýức thế giới của UNESCO. Năm 2023, Bộ VHTTDL đã chính thức được Chính phủ giao nhiệm vụquản lýnhà nước về Di sản tư liệu. Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng về nhận thức, lýluận và thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giátrị di sản tư liệu theo tinh thần của Chương trình.
“Những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, góp phần vào phát triển bền vững nếu chúng ta biết phát huy những giátrị đích thực, thế mạnh mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa đơn thuần, đồng thời phải có cách tiếp cận mới, vừa tập trung vào diện mạo của di sản văn hóa mang tính đồng bộ…”, Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương khẳng định. Một số nhiệm vụ trọng tâm được Thứ trưởng đề xuất để phát huy các di sản văn hóa được UNESCO ghi danh gắn với phát triển bền vững: Hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về di sản văn hóa; nhận thức việc bảo tồn di sản văn hóa và phát triển bền vững có mối quan hệ chặt chẽvà phụthuộc lẫn nhau; bảo vệ di sản văn hóa gắn liền với bảo vệ môi trường; gắn bảo tồn với phát huy và khai thác thông qua phát triển du lịch bền vững; chú trọng công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hóa; tăng cường đầu tư nguồn lực.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam chia sẻ, bên cạnh những thành công, ở một số địa phương sở hữu danh hiệu vẫn đang trăn trở trước những thách thức giữa bảo tồn và phát triển. Thách thức lớn nhất vẫn là hài hòa giữa phát triển lợi ích kinh tế và bảo tồn di sản. Thứtrưởng Hà Kim Ngọc nhấn mạnh, câu chuyện thành công trong việc phát huy các danh hiệu hay các thách thức hiện hữu mànhiều địa phương đang phải đối mặt đều cần được làm rõ. Những bài học điển hình quý giá, giải pháp sáng tạo và kể cảcác bài học sai phạm, đôi khi rất đắt giá nhưng sẽ lànhững kinh nghiệm quý báu cho các địa phương đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng hồ sơ đề cử UNESCO ghi danh hoặc các địa phương mong muốn sở hữu thêm các danh hiệu UNESCO.
PHƯƠNG ANH; ảnh: MINH QUANG

RSS